Ở nhà nội trợ thì khi ly hôn có được chia tài sản ?

CÔNG TY LUẬT TNHH KHANG VŨ
Điểm tựa niềm tin- Hiện thân công lý

Ở nhà nội trợ thì khi ly hôn có được chia tài sản ?

Sau khi kết hôn, anh T yêu cầu vợ là chị H ở nhà nội trợ, chăm sóc con nhỏ và bố mẹ chồng già yếu. Thấy yêu cầu của chồng cũng hợp lý nên chị H nhất trí ở nhà nội trợ, dành thời gian để chăm sóc con cái và bố, mẹ chồng. Tuy nhiên, mẹ chồng chị H thường xuyên đay nhiếc chị H là không chịu làm ăn, chỉ ăn bám chồng, đồng thời cũng nói rằng tài sản trong nhà là của anh T hết, chị H không có quyền gì đối với số tài sản mà anh T làm ra. Hỏi: Ý kiến của mẹ chồng chị H về tài sản trong nhà là của anh T, chị H không có quyền gì đối với số tài sản mà anh T làm ra là đúng hay sai? Trong trường hợp này, tài sản vợ chồng anh T và chị H được pháp luật quy định như thế nào?

Trả lời:

Căn cứ khoản 2 Điều 16 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, quy định:

“Điều 16. Giải quyết quan hệ tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn

2. Việc giải quyết quan hệ tài sản phải bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của phụ nữ và con; công việc nội trợ và công việc khác có liên quan để duy trì đời sống chung được coi như lao động có thu nhập.”

Căn cứ khoản 1 Điều 29 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, quy định:

“Điều 29. Nguyên tắc chung về chế độ tài sản của vợ chồng

1. Vợ, chồng bình đẳng với nhau về quyền, nghĩa vụ trong việc tạo lập, chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung; không phân biệt giữa lao động trong gia đình và lao động có thu nhập.”

Căn cứ Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, quy định:

“Điều 33. Tài sản chung của vợ chồng

1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.

2. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.

“Điều 29. Nguyên tắc chung về chế độ tài sản của vợ chồng

3. Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung”

Căn cứ các quy định trên, tài sản do anh T làm ra trong thời kỳ hôn nhân là tài sản chung của vợ chồng, chị H thực hiện công việc nội trợ, chăm sóc gia đình được coi như lao động có thu nhập và có quyền bình đẳng với anh T trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung. Theo đó, ý kiến của mẹ chồng chị H, tài sản trong nhà là của anh T, chị H không có quyền gì đối với số tài sản mà anh T làm ra là sai với quy định.

Tình huống 5: Anh M và chị N kết hôn từ năm 2020. Năm 2024, bố mẹ anh M cho riêng anh M ngôi nhà mà hiện nay là nơi ở duy nhất của vợ chồng anh M. Hỏi: Trong trường hợp này, khi anh M thực hiện các giao dịch liên quan đến ngôi nhà thì có phải thỏa thuận với chị N không?

Trả lời:

Căn cứ Điều 31 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, quy định:

“Điều 31. Giao dịch liên quan đến nhà là nơi ở duy nhất của vợ chồng

Việc xác lập, thực hiện, chấm dứt các giao dịch liên quan đến nhà là nơi ở duy nhất của vợ chồng phải có sự thỏa thuận của vợ chồng. Trong trường hợp nhà ở thuộc sở hữu riêng của vợ hoặc chồng thì chủ sở hữu có quyền xác lập, thực hiện, chấm dứt giao dịch liên quan đến tài sản đó nhưng phải bảo đảm chỗ ở cho vợ chồng.”

Như vậy, trong trường hợp này, nhà thuộc sở hữu riêng của anh M thì anh M có quyền xác lập, thực hiện, chấm dứt giao dịch liên quan đến nhà đó nhưng phải bảo đảm chỗ ở cho vợ và các con của mình.

Tình huống 6: Chị B và anh T kết hôn năm 2024, hiện nay chị B muốn mở cửa hàng bán quần áo để kiếm thêm tiền, tăng thu nhập cho gia đình nhưng anh T không đồng ý. Vì vậy, chị B đòi chia một phần tài sản chung để chị lo liệu mở cửa hàng. Hai vợ chồng mâu thuẫn vì không thống nhất được với nhau. Hỏi: Trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng có được chia tài sản chung không?

Trả lời:

Căn cứ Điều 38 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, quy định:

“Điều 38. Chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân

1. Trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng có quyền thỏa thuận chia một phần hoặc toàn bộ tài sản chung, trừ trường hợp quy định tại Điều 42 của Luật này; nếu không thỏa thuận được thì có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết.”

Như vậy, trong trường hợp này, trước hết chị B nên thuyết phục anh T đồng ý với nguyện vọng chính đáng của mình, nếu không thỏa thuận được với anh T về việc chia một phần tài sản chung, chị B có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết chia tài sản chung vợ chồng.

Hôn nhân và gia đình Liên quan

Thỏa thuận phân chia tài sản chung để trốn tránh trả nợ

Chị H và anh N kết hôn từ năm 2015, hiện nay, do làm ăn thua lỗ và mắc nợ một số cá nhân. Vợ chồng chị H anh N đã lập văn bản thỏa thuận về việc chia tài sản chung nhằm trốn tránh nghĩa vụ trả nợ của chị H. Hỏi: Văn bản thỏa thuận trên có được pháp luật công nhận không?

Xem thêm
Chồng tự ý rút tiền tiết kiệm có vi phạm pháp luật không?

Vợ chồng anh A, chị C kết hôn được 15 năm có 500 triệu đồng gửi tiết kiệm, đứng tên anh A. Vì muốn hùn vốn để làm ăn chung với bạn, anh A bàn với vợ rút khoản tiền tiết kiệm trên, nhưng chị C không đồng ý, vì muốn để phòng khi ốm đau. Mặc dù chị C không đồng ý, anh A vẫn tự ý rút số tiền tiết kiệm đó vì cho rằng mình là chủ gia đình nên có toàn quyền quyết định những việc lớn trong gia đình. Hỏi: Anh A có quyền tự ý sử dụng số tiền tiết kiệm đó không, pháp luật quy định về vấn đề này như thế nào?

Xem thêm
Cha mẹ ép cưới xử lý như thế nào?

Chị B và anh K quen biết do hai bên gia đình mai mối, nhưng chị B không có tình cảm gì và cũng không muốn kết hôn. Tuy nhiên, hai bên gia đình đã đi xem tử vi và được thầy phán rằng: “Nếu chị B kết hôn với anh K thì sẽ có cuộc sống sung túc, anh K cũng thăng tiến trên đường công danh”. Sau khi biết thông tin, gia đình chị B yêu cầu chị phải lấy anh K, thấy con gái không chịu kết hôn với K, bố chị B đã nổi giận và nói sẽ “từ” con. Không khí gia đình luôn nặng nề, căng thẳng, chị B bị áp lực có biểu hiện trầm cảm nhẹ. Hỏi, bố chị B có vi phạm pháp luật về hôn nhân gia đình không? Nếu có thì hành vi này bị xử lý như thế nào?

Xem thêm
Ly hôn đơn phương mất thời gian bao lâu?

Có nhiều người vợ/ chồng muốn ly hôn nhưng 1 trong 2 bên không đồng ý ký đơn dẫn đến sự việc đơn phương ly hôn. Trên thực tế, thời gian giải quyết việc đơn phương ly hôn không những phụ thuộc vào quy định của pháp luật mà còn phụ thuộc tính chất vụ việc, việc thu thập chứng cứ, giải quyết tranh chấp về con chung, tài sản chung và quá trình tố tụng tại Tòa án. 

Xem thêm
whatsapp
zalo
viber
phone
Logo